(Bạn đọc) - Khi đề án 911 của Bộ giáo dục và đào tạo (GD – ĐT) không đạt kế hoạch, thì Bộ lại có dự án mới để trình lên Chính phủ, để tăng tốc 9.000 tỷ đồng nhằm đào tạo tiến sĩ cho tương lai. Nếu cứ với sự quyết tâm “chuẩn hóa” này, sẽ có một ngày ở Việt Nam người bán bánh khúc ngoài đường, thanh niên trẻ bán bánh mì ngoài ngõ, chạy xe ôm… cũng có bằng tiến sĩ. Và đặc biệt hơn cả, là chỉ có người nông dân mới có nhiều sáng chế… quả là trí tuệ bay xa.

Đề án mới ra đời, sau khi đề án 911 vẫn còn ngân sách chưa giải ngân hết

Sau khi đề án 911 của Bộ GD – ĐT đã thông báo dừng tuyển sinh vì không đạt kế hoạch đề ra (theo kế hoạch đề án 911 sẽ triển khai từ năm 2013 đến năm 2020, nhưng vì không đạt kế hoạch nên tháng 12/2016, đề án này đã bị hủy bỏ). Thì mới đây Bộ GD – ĐT đã có đề án mới thay thế trình lên Chính phủ, có tên: “Đề án đào tạo trình độ tiến sĩ ở nước ngoài cho giảng viên các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2017-2030”.

Đề án này dự kiến sẽ dành 12.000 tỷ đồng để đào tạo 9.000 tiến sĩ, trong đó đào tạo 7.500 giảng viên có trình độ tiến sĩ và thu hút 1.500 tiến sĩ đến giảng dạy ở các trường Đại học (ĐH). Đồng thời tiến hành bồi dưỡng cho giảng viên, cán bộ quản lý các trường ĐH đạt chuẩn.

Với mục tiêu mà Bộ GD – ĐT đưa ra là góp phần thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển khoa học, công nghệ cho đất nước, giai đoạn 2018 – 2015, tầm nhìn 2030. Để mục tiêu số lượng giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt tỉ lệ 35%.

Kết quả thực hiện đề án 911 năm 2016 trước khi dừng thực hiện

Kết quả thực hiện đề án 911 năm 2016 trước khi dừng thực hiện

Để thực hiện đề án này, Bộ GD – ĐT đã đưa ra lý giải về việc tình hình giảng viên có trình độ tiến sĩ trong công tác giảng dạy tại các trường ĐH còn thấp, chưa hợp lý về cơ cấu tuổi và cân bằng giữa các ngành. Đồng thời, Bộ GD – ĐT cũng đưa ra so sánh về tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ ở Việt Nam với một số nước trong khu vực. Trong khi, ở Việt Nam tỉ lệ này chỉ đạt 22,7% – năm 2017, thì Thái Lan đã đạt 24% vào năm 2005, Malaysia đã đạt 73% năm 2010.

Mặc dù, Bộ GD – ĐT khẳng định không lấy thêm kinh phí của Nhà nước, mà sẽ thực hiện đề án này dựa trên kinh phí còn lại của đề án 911 là 10.200 tỷ đồng và số còn lại là 1.800 tỷ đồng từ các cơ sở giáo dục đào tạo, cùng đối tượng được hưởng từ đề án.

Cách này sẽ tránh tình trạng giảng viên không muốn học lên tiến sĩ mà vẫn đăng ký để lấy học bổng; cùng với việc tạo cho nghiên cứu sinh sự cân nhắc với số tiền mà bản thân sẽ phải bỏ ra để đi học, nằm ngoài sự hỗ trợ từ kinh phí Nhà nước.

Điều này đã đặt ra một câu hỏi lớn, đó là: Tại sao khi đề án 911 của Bộ GD – DDT đưa ra đã không phù hợp, không đạt kết quả như ban đầu và dẫn đến “phá sản”. Vậy mà, tại sao Bộ lại vẫn tiếp tục đưa ra đề ác khác? Có phải vì số tiền của đề án 911 chưa được giải ngân hết?

Bỏ kinh phí đào tạo, nhưng cử nhân tốt nghiệp rồi… không về nước

Cái kết đoạn buồn nhất 2 đề án 322, 911, 599 mà Bộ GD – ĐT đã đề ra để đưa cử nhân đi đào tạo Thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài trước đây, đó là sau khi tốt nghiệp những tiến sĩ không chịu… về nước.

Còn nhớ năm 2000, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 322/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước” (gọi tắt là Đề án 322). Sau đó, năm 2005 có Quyết định tiếp theo số 356/QĐ-Ttg thay thế cho đề án 322, về việc điều chỉnh đề án đến năm 2014 (Đề án 356).

Đề án 322 được xem là công cuộc đổi mới ngành giáo dục nước nhà nhiều nhất, bởi chỉ trong 10 năm (2000 – 2010), đề án này đã gửi được 4.590 người đi học. Trong đó, có 2.268 người đi học trình độ tiến sĩ, 3.017 lưu học sinh đã tốt nghiệp về nước, gồm 1.074 TS, 984 thạc sĩ, 233 thực tập sinh và 726 sinh viên đại học.

Cách mà Việt Nam mong muốn bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, bằng việc xây dựng và thực hiện đề án 322 quả có ý nghĩa lịch sử. Cũng giống như thời Duy Tân Minh Trị của Nhật Bản đưa học sinh, cán bộ, sĩ quan.. đi học ở Châu Âu; Trung Quốc cử sinh viên giỏi nhất đi du học để về làm việc trong đặc khu kinh tế Thâm Quyến; Braxin đưa ra quyết định dành hơn 2,5 tỉ đô la để gửi 100.000 người ra nước ngoài học tập vào năm 2010…

Nhiều cử nhân Việt Nam đi du học theo đề án 322 về gặp phải chuyện dở khóc dở cười như: "lương vẫn thế"

Nhiều cử nhân Việt Nam đi du học theo đề án 322 về gặp phải chuyện dở khóc dở cười như: “lương vẫn thế”

Tuy nhiên, trong 10 năm (2000 – 2010), ở góc nhìn của Việt Nam, con số 33 lưu học sinh không hoàn thành nhiệm vụ, bị buộc thôi học hoặc về nước chỉ là những con số báo cáo trên giấy tờ. Còn thực tế thì đề án này đã mở ra cái xu hướng “thụ hưởng” cho các du học sinh, bằng việc lợi dụng nguồn ngân sách nhà nước. Để sang nước ngoài học các chuyên ngành khác, nhiều trường hợp học xong không về nước, hoặc về nước xin ra khỏi đơn vị công tác, để tự mở công ty hoặc làm cho doanh nghiệp tư nhân.

Việc Bộ GD – ĐT muốn đào tạo thêm tiến sĩ trong đề án mới này cũng sẽ để làm gì, khi chính Bộ GD – ĐT cũng đã có những dẫn chứng. Về số lượng các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ ở Việt Nam hiện nay hơn hẳn các nước trong khu vực ASEAN. Với khoảng 9.000 giáo sư, phó giáo sư và khoảng 24.300 tiến sĩ.

Có lẽ, trong hoạt động đào tạo nguồn nhân lực mà Bộ GD- ĐT đưa ra nhân dân đã “thấy đủ”. Thấy đủ là đủ về số lượng, chứ chưa phải về chất lượng. Bởi theo thống kê của Web of Science – cơ sở dữ liệu khoa học cung cấp thông tin về danh mục tạp chí uy tín thế giới. Thì giai đoạn 2011-2016, Việt Nam có tổng số hơn 15 nghìn công bố thuộc danh mục Viện thông tin khoa học (ISI), thuộc hàng thấp trong khu vực Đông Nam Á.

Năm 2016, Việt Nam có 3.814 số bài công bố trên ISI, thì Thái Lan có 8.847 công bố, Malaysia có 14.129 công bố, và Singapore với 14.120 công bố. Đó là chưa kể đến việc trong giai đoạn 2006 – 2010 trước đó, Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế được công bố tại Mỹ.

Việc đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở trong nước đã được ví với sự khôi hài là chẳng khác gì cái “lò ấp gà công nghiệp”, mà nếu thực hiện chương trình đưa các thạc sĩ, tiến sĩ “công nghiệp” đó ra nước ngoài thì hỏi rằng từ “gà công nghiệp” có trở thành “gà chọi” hay không?

Hãy cứ nhìn vào thực tế ở Học viện Khoa học Xã hội (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) mà xem, trong 1.095 ngày “ấp nở” đến hơn 1.100 tiến sĩ, nhưng rồi chẳng biết để làm gì?

Trong khi “chất xám” của quốc gia liên tục bị chảy máu, mà Bộ GD – ĐT và Nhà nước vẫn còn “chưa biết làm gì”; thì việc cố gắng chi 12.000 tỷ đồng để đưa giảng viên ra nước ngoài đào tạo hệ tiến sĩ rồi về có đạt hiệu quả như mong muốn?

TS Lê Viết Khuyến – nguyên phó vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH, Bộ GD-ĐT , đã cho rằng Bộ GD-ĐT phấn đầu nâng tỉ lệ 35% giảng viên lên trình độ tiến sĩ “không có gì là ghê gớm”. Thật là, Bộ GD – ĐT cố gắng nâng lên nhằm để tạo “hiền tài là nguyên khí”, hay chỉ là “phổ cập tiến sĩ” cho nước nhà?

CTV Đinh Lực

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@vovanthuong.org
Xem thêm:
Thích và chia sẻ bài này trên